Nguyên nhân gây hiện tượng biến đổi khí hậu
12/02/2014 09:49:34

 Hiệu ứng nhà kính tự nhiên duy trì sự sống trên trái đất, tuy nhiên, với sự can thiệp quá mức của loài người đã làm tăng nồng độ của các loại khí nhà kính trong bầu khí quyển, gia tăng hiệu ứng nhà kính, làm cho trái đất nóng lên và gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu.

1. Khí nhà kính và hiệu ứng nhà kính.
 
Khí quyển là lớp không khí bao quanh trái đất, với 80% lượng khí tập trung chủ yếu từ mặt đất đến độ cao khoảng 10km, càng lên cao càng loãng và không có mép ngoài cố định. Thành phần của khí quyển gồm: 78% Nito (N2), 21% oxy(O2), 1% hơi nước và các khí  như: CO, CO2, N2O, CH4, O3
 
Sự phân bố của các khí tạo tính đa năng của khí quyển: (1) Cho phép một phần năng lượng ánh sáng mặt trời đến được bề mặt trái đất; (2) Ngăn không cho bức xạ nhiệt từ trái đất thoát ra ngoài không trung giữ ấm trái đất. Hiện tượng này gọi là hiệu ứng nhà kính giúp duy trì nhiệt độ thích hợp cho sự sống và (3) Các khí có tác tác dụng giữ nhiệt trong khí quyển được gọi là khí nhà kính, gồm: CO2, N20, CH4, O3
 
Khí carbonic (CO2): là khí nhà kính phát thải nhiều nhất  - đây là nguyên nhân chính làm gia tăng hiệu ứng nhà kính gây ấm lên toàn cầu. Khí carbonic còn được gọi là thán khí – là khí do con người và động vật thở ra khi hô hấp hoặc khi có sự cháy.
 
Trong tự nhiên, cây xanh hấp thụ khí carbonic trong quá trình quang hợp và giải phóng oxy trở lại khí quyển. Chặt phá rừng làm tăng lượng carbonic trong không khí, các bề mặt đại dương cũng hấp thu Khí carbonic.
Các nguồn phát thải carbonic gồm: đốt nhiên liệu hóa thạch (khí gas, xăng dầu, than đá) dùng cho sản xuất năng lượng, phương tiện giao thông, cháy rừng, đốt than, củi, rơm…và chăn nuôi.
 
Metan (CH4): Có tiềm năng làm nóng trái đất cao hơn CO2 (gấp 72 lần trong khoảng thời gian 20 năm), CH4  thúc đẩy sự oxy hóa hơi nước trong khí quyển, sự gia tăng hơi nước gây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn nhiều so với hiệu ứng trực tiếp của CH4
 
CH4 được dùng làm khí đốt (biogas), nó là thành phần chính của khí tự nhiên, khí dầu mỏ, khí đầm ao, đầm lầy. CH4  được sinh ra từ quá trình khai thác, vận chuyển sử dụng dầu mỏ, than đá, các quá trình sinh học như men hóa đường ruột của các gia súc, phân giải kị khí ở đất ngập nước, ruộng lúa, cháy rừng.
 
Các khí clorolfuorocacbon (CFC): là những hóa chất tổng hợp, có mặt trong khí quyển từ khi công nghiệp làm lạnh, mỹ phẩm phát triển. Bên cạnh khả năng làm nón trái đất mạnh (hơn CO2 gấp 11.000 lần trong thời gian 20 năm), CFC ở sang sol khí thường làm tổn hại tầng ozon. Nếu chấm dứt phát thải ngay thì khoảng 100 năm sau mới phân hủy hết lượng CFC hiện có
 
Khí oxit nito (NO2): chiếm một lượng nhỏ trong thành phần các khí nhà kính, nhưng khả năng làm nóng trái đất cao (gấp 289 lần trong khoảng thời gian 20 năm) và làm tổn hai tầng ozon. Do nó có thời gian tồn tại trongkhis quyển lâu dài, nên lượng oxit nito thải ra tiếp tục gây ấm lên toàn cầu và kéo dài đến thế kỷ sau.
 
Các nguồn phát thải khí oxit nito gồm: sản xuất phân bón, hóa chất, đốt nhiên liệu hóa thạch, cháy rừng, đốt rơm rạ, xử lí nước thải, quá trình nitrat hóa các loại phân bón hữu cơ, vô cơ trong nông nghiệp.
 
Ôzôn (O3) được tạo ra tự nhiên do các phản ứng trong khí quyển và do hoạt động của con người, như từ xe cộ và các nhà máy năng lượng. Ở tầng cao của khí quyển, tầng ôzôn hấp thu bức xạ tia cực tím bảo vệ trái đất, trong khi sự gia tăng ôzôn ở tầng thấp của khí quyển góp phần làm trái đất nóng lên. Do có thời gian tồn tại trong khí quyển ngắn, nên ôzôn chủ yếu gâp nóng lên ở quy mô khu vực nhiều hơn là gây ấm lên toàn cầu.
 
2. Gia tăng khí nhà kính trong khí quyển do hoạt động của con người, làm cho trái đất nóng lên gây biến đổi khí hậu
 
Trong hơn 100 năm công nghiệp hóa và phát triển, các hoạt động của con người như đốt nhiên liệu hóa thạch ( xăng, dầu, than đá, khí đốt tự nhiên), phá rừng và thay đổi sử dụng đất như phát triển đô thị, sản xuất, làm đường…đã thải một lượng lớn khí nhà kính vào trong khí quyển, như CO2, CH4, CFC, và N2O. Sự gia tăng khí nhà kính đẩy mạnh hiệu ứng nhà kính làm cho trái đất nóng hơn – hay còn gọi là ấm lên toàn cầu.
 
Nhiệt độ trên trái đất tăng kéo theo những thay đổi khác trong hệ thống khí hậu: (1) Băng tan; (2) Mưc nước biển dâng – do giãn nở nhiệt trong đại dương và băng tan; (3) Thay đổi lượng mưa – do nhiệt độ tăng, lượng nước bốc hơi nhiều hơn; (4) Thay đổi mùa - ảnh hưởng đến đời sống con người, sinh vật, mùa màng; (5) Thiên tai bão lũ, hạn hán...xuất hiện thường xuyên, mạnh hơn và khó đoán hơn
 
3. Tình hình phát thải khí nhà kính
 
 
Toàn cầu
 
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ủy Ban Liên Chính Phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), phát thải khí nhà kính toàn cầu tăng từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng năm 1750) và tăng 70% trong giai đoạn 1970 – 2004. Hàm lượng CO2, CH4 và N2O trong khí quyển do hoạt động của con người từ năm 1750 đến nay, đã vượt xa mức tích tụ tự nhiên trong hàng nghìn năm. Căn cứ theo số liệu nghiên cứu lõi băng ở Greenland và Nam cực.. Đến năm 2005, nồng độ khí CO2 và CH4 trong khí quyển cao hơn gấp nhiều lần so với 650 năm trước. Cụ thể về các nguồn phát thải và mức đóng góp vào việc làm nóng trái đất như sau: (1) Gia tăng CO2 chủ yếu do sử dụng nhiên liệu hóa thạch ( trong ngành năng lượng, công nghiệp, giao thông...) và có sự đóng góp đáng kể của việc thay đổi sử dụng đất, phá rừng; (2) Gia tăng CH4 do hoạt động nông nghiệp va sử dụng nhiên liệu hóa thạch và (3) Gia tăng N2O do hoạt động nông nghiệp.
Phát thải Khí nhà kính theo lĩnh vực
 
Riêng CO2 là loại khí nhà kính quan trọng nhất phát thải do hoạt động của con người, chủ yếu là do sử dụng nhiên liệu hóa thạch, đóng góp gần một nửa vào việc gây ấm lên toàn cầu. Lượng CO2 phát thải hàng năm từ 1970 – 2004 tăng 80% và chiếm 77% tổng lượng khí nhà kính phát thải của năm 2004.
 
Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2­ trên toàn cầu. Thứ tự các nước phát thải cao năm 2004 như sau: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Ấn độ, Nhật Bản, CHLB Đức, Canada, Anh. Tốc độ phát thỉa khí CO2 của các nước đang phát triển cũng tăng khá nhanh trong khoảng 15 năm qua.
 
Tuy nhiên có sự chênh lệch lớn về dân số và mức phát thải giữa các nước giàu và các nước nghèo: Các nước giàu: chiếm 15% dân số thế giới, tổng lượng phát thải chiếm 45% tổng lượng phát thải toàn cầu. Các nước châu Phi và cận Sahara: chiếm 11% dân số thế giới, tổng lượng phát thải chiếm 2% tổng lượng phát thải toàn cầu. Các nước kém phát triển: chiếm 1/3 dân số thế giới, tổng lượng phát thải chiếm 7% tổng lượng phát thải toàn cầu.
 
 
 
 
Sơ đồ phân bố phát thải khí nhà kính theo quốc gia năm 2006 (Nguồn: IPCC)
 
 
Đây là điều mà các nước đang phát triển nêu ra về bình đẳng và nhân quyền tại các cuộc thương lượng về công ước khí hậu và nghị định thư Kyoto. Chính vì thế, một nguyên tắc cơ bản, đầu tiên được ghi trong công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu là: “ các bên phải bảo vệ hệ thống khí hậu vì lợi ích của các thế hệ hôm nay và mai sau của nhân loại, trên cơ sở công bằng, phù hợp với trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và bên các nước phát triển phải đi đầu trong việc đấu tranh chống biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng có hại của chúng.”
 
 

 

 
 
 
 
 
 
 
              
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh

Cần cài đặt Flash Player để xem

» All   

 
 
 
 
 
 

 

/tabid/64/default.aspx
/102_101/default.aspx
 
 
 
 
 
 
LIÊN KẾT WEBSITE

 

 

Bình Định
Cần Thơ
Đà Nẵng
 
 
 
 
 
 
 
 
Trang chủ            Liên hệ             RSS            Đăng nhập